2 quy tắc cần nhớ khi chọn thuốc chữa bệnh trĩ

Để điều trị bệnh trĩ hiệu quả, có 2 quy tắc mà người bệnh cần nhớ khi chọn thuốc chữa bệnh này:

Để chữa bệnh trĩ, cần dùng thuốc điều trị bệnh trĩ

Trên thị trường hiện nay, có rất nhiều sản phẩm được quảng cáo là dành cho người mắc bệnh trĩ. Tuy nhiên, thực tế, không phải sản phẩm nào cũng là thuốc có công dụng chữa bệnh này.

Để chữa bệnh trĩ, cần dùng thuốc điều trị bệnh trĩ (Ảnh minh họa)

Cần nhớ, để chữa bệnh trĩ, cần dùng thuốc điều trị bệnh trĩ. Việc sử dụng các loại sản phẩm hỗ trợ cũng không thể thay thế được thuốc chữa bệnh. Để phân biệt thuốc và các loại sản phẩm hỗ trợ, người bệnh có thể quan sát ngay trên bao bì sản phẩm. Thông thường, trên vỏ hộp thuốc thường ghi đầy đủ công dụng/chỉ định, chống chỉ định, liều dùng… và dòng khuyến cáo “Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng”. Trong khi đó, ở các loại sản phẩm hỗ trợ, trên vỏ hộp thường ghi rõ đó là thực phẩm chức năng, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm bổ sung… và dòng khuyến cáo “Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh”.

Thuốc có cơ chế điều trị bệnh trĩ từ gốc

Theo lý luận của Đông y, nguyên nhân gây ra bệnh trĩ là do khí hư, khí trệ, huyết ứ. Máu từ tim theo động mạch đi đến nuôi các mô vùng hậu môn, rồi tiếp tục theo tĩnh mạch lại trở về tim. Nhưng vì khí hư, khí trệ, huyết ứ, khiến máu ở vùng hậu môn theo tĩnh mạch về không hết, trong khi máu ở động mạch vẫn được đưa đến, nên bị dồn trệ lại, làm tĩnh mạch căng phồng lên và mỏng đi, lâu dần sa xuống tạo thành búi trĩ. Huyết ứ lâu ngày sinh nhiệt hoặc nguyên nhân là nhiệt, nhiệt độ trong cơ thể tăng cao làm cho mạch máu vỡ ra nên thường có triệu chứng chảy máu.

Do đó, nếu chỉ sử dụng thuốc nhằm trị nhanh triệu chứng, bệnh trĩ sẽ dễ dàng tái phát và tiến triển nặng hơn. Để điều trị bệnh trĩ hiệu quả, hạn chế nguy cơ tái phát, cần tập trung điều trị căn nguyên gây bệnh (tức là phải bổ khí, thăng khí, bổ huyết), đồng thời kết hợp cải thiện nhanh các triệu chứng (cầm máu, giảm đau, nhuận tràng thông tiện, thanh nhiệt giải độc, làm co búi trĩ…), và tăng cường làm bền thành mạch, củng cố lại các mạch máu bị giãn do búi trĩ.

Hiện nay, có một số bài thuốc dựa trên nguyên lý này, cho tác dụng điều trị bệnh trĩ rất hiệu quả. Chẳng hạn, có bài thuốc gồm thành phần là 12 loại dược liệu quý với 3 tác động, tập trung giải quyết cả 3 vấn đề: điều trị gốc rễ nguyên nhân gây bệnh, kết hợp cải thiện nhanh các triệu chứng, đồng thời tăng cường bảo vệ và làm bền thành mạch máu, từ đó giúp điều trị bệnh trĩ hiệu quả, giảm nguy cơ tái phát.

Trong đó:

- Nhóm các vị thuốc tập trung bồi bổ khí huyết, thăng dương khí: Đảng sâm, Hoàng kỳ, Đương Quy, Bạch truật, Thăng ma, Trần bì, Sáp ong, Mật ong giúp bổ khí, bổ huyết, nhất là khí huyết vùng hậu môn – trực tràng; giúp khí huyết lưu thông, không còn ứ trệ, co búi trĩ, từ đó trị bệnh trĩ cho hiệu quả lâu dài, hạn chế tái phát.

- Nhóm các vị thuốc giúp cải thiện nhanh các triệu chứng:

+ Thăng ma, Hoàng kỳ giúp thăng dương khí, làm co búi trĩ.

+ Trắc bách diệp, Than hoạt tính, Hòe hoa giúp cầm máu nhanh, giảm đau rát.

+ Trắc bách diệp giúp nhuận tràng thông tiện, hạn chế táo bón – một nguyên nhân gây bệnh trĩ và khiến bệnh tăng nặng, làm cho người bệnh cảm thấy đau rát.

+ Cam thảo, Hòe hoa, Than hoạt tính giúp thanh nhiệt giải độc.

- Nhóm các vị thuốc giúp làm bền thành mạch: Hòe hoa, Trần bì giúp làm bền lại các mạch máu bị giãn do búi trĩ, nhờ đó giúp co búi trĩ và hạn chế nguy cơ tái phát.

Bài thuốc này đã được bào chế trên công nghệ hiện đại, có dạng viên hoàn cứng giúp người bệnh sử dụng thuận tiện mà lại dễ hấp thu, góp phần tăng cao hiệu quả điều trị. Thuốc đã được Bộ Y tế cấp phép là thuốc, lưu hành tại các nhà thuốc trên toàn quốc.

Không chỉ điều trị bệnh trĩ, bài thuốc này còn điều trị sa trực tràng, đại tiện ra máu kéo dài, mất máu sinh chứng hoa mắt chóng mặt. Bài thuốc được nhiều chuyên gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực Đông y đánh giá cao và rất nhiều người bệnh phản hồi tích cực.

Thanh Lan

Trĩ Linh Hoàn P/H – Thuốc cho người bệnh trĩ

– Công dụng: Trĩ Linh Hoàn P/H có tác dụng bổ khí, thăng đề, cầm máu. Thuốc được dùng để điều trị các thể trĩ, sa trực tràng, đại tiện ra máu kéo dài, mất máu sinh chứng hoa mắt chóng mặt.

– Thành phần: Đảng sâm, Hoàng kỳ, Đương Quy, Bạch truật, Thăng ma, Trần bì, Sáp ong trắng, Mật ong, Trắc bách diệp, Than hoạt tính, Hòe hoa, Cam thảo

– Liều dùng: Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 gói. Uống thuốc với nước đun sôi để nguội.

– Chống chỉ định: Trẻ em dưới 30 tháng tuổi, trẻ em có tiền sử động kinh hoặc co giật do sốt cao.

– Quy cách đóng gói: Hộp 10 gói x 5g hoàn cứng.

Số GPQC 0095/2018/XNQC/QLD

* Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.

Xem thêm thông tin về thuốc Trĩ Linh Hoàn P/H tại đây hoặc liên hệ 0981.20.39.49 để được hỗ trợ.

Nguyên nhân gây đau nửa đầu

Hồng Loan(Hà Tĩnh)

Đau đầu là một trạng thái bệnh lý phổ biến, khoảng 50% bệnh nhân đến khám có bệnh này. Trường hợp đau nửa đầu của bạn còn gọi đau đầu Migraine. Nguyên nhân vẫn chưa được biết rõ. Có 2 dạng lớn của loại này là:

Đau nửa đầu không có triệu chứng báo trước: Thường xuất hiện vào buổi sáng khi mới ngủ dậy, có khi là ban đêm và ít xảy ra vào ban ngày. Cơn đau thường khởi phát từ từ và đạt tới đỉnh cao sau vài giờ. Lúc đầu chỉ đau nửa đầu (thường ở vùng thái dương rồi lan dần ra cả đầu, đau chủ yếu ở phần sọ). Loại đau này có đặc điểm là đau theo nhịp đập của mạch và nặng lên khi hoạt động kèm theo buồn nôn, cơn đau thường kéo dài từ vài giờ đến vài ngày và để lại cảm giác ê ẩm trong đầu sau đó.

Dạng đau nửa đầu có triệu chứng báo trước: Thường  khởi đầu bằng những triệu chứng thần kinh khu trú ở vỏ não hoặc thùy não rồi phát triển dần dần trong 5 - 20 phút, kéo dài ít hơn 60 phút. Tiếp theo đó là đau đầu buồn nôn và sợ ánh sáng. Có thể rối loạn thị lực cùng bên với phía đau đầu có cảm giác dị cảm như kiến đốt, kim châm, yếu nửa người hay nói khó hoặc mất ngôn ngữ. Các triệu chứng kéo dài 60 phút và sẽ phục hồi hoàn toàn. Đây là điểm khác biệt lớn nhất để phân biệt với những chứng đau đầu khác. Tuy nhiên, triệu chứng có thể khác nhau giữa những người này và người khác, giữa đợt này với đợt khác. Theo thư bạn kể thì chưa thể xác định được bệnh gì. Vì vậy, bạn cần đến chuyên khoa nội thần kinh để được khám và tư vấn cụ thể.

BS. Nguyễn Văn Bình

Cảnh giác đột quỵ não khi giao mùa

Ai cũng biết rằng đột quị não, hay còn được gọi một cách nôm na là tai biến mạch máu não, có căn nguyên do tổn thương xơ vữa mạch não hoặc do tăng huyết áp. Nhưng còn một nguyên nhân cũng rất hay gặp trên thực tế lâm sàng gây đột quị não, đó là nguyên nhân do... tim mà đặc biệt khi giao mùa thời tiết lạnh đột ngột.

Bệnh tim và đột quị não

Bệnh lý của tim có thể gây đột quị não khi những loại bệnh tim này là nguyên nhân của việc xuất hiện những cục máu đông (huyết khối) trong buồng tim (nhất là tâm nhĩ trái hoặc tâm thất trái). Một khi cục máu đông đã được hình thành trong buồng tim, nguy cơ nó có thể bong ra, xuống tâm thất trái, vào vòng đại tuần hoàn gây tắc mạch là rất lớn. Cục máu đông trôi theo hệ thống động mạch (ĐM) lên não (hệ mạch cảnh và sống - nền) sau đó sẽ bị kẹt ở một nhánh ĐM nào đó và gây nên triệu chứng.

Các điều kiện làm cho huyết khối dễ hình thành trong tâm nhĩ bao gồm tần số đập của tâm nhĩ, kích thước tâm nhĩ, tình trạng máu tăng đông hoặc máu bị cô đặc do mất nước. Khi tâm nhĩ đập quá nhanh hay “rung” lên đơn thuần, máu sẽ luẩn quẩn ở tâm nhĩ mà không xuống tâm thất được nên dễ bị đông. Điều kiện thứ hai đó là kích thước của tâm nhĩ. Tâm nhĩ càng giãn to thì khả năng hình thành huyết khối trong đó càng lớn.

Rung nhĩ là một loại loạn nhịp gây ra bởi những xung động rất nhanh (khoảng 400 lần/phút) và rất không đều tác động lên tâm nhĩ làm cho nó gần như không kịp co bóp nữa mà chỉ “rung” lên không đều ở từng phần, từng sợi cơ. Trên lâm sàng, rung nhĩ chính là biểu hiện của chứng “loạn nhịp hoàn toàn”.

Một số bệnh tim có biểu hiện rung nhĩ như bệnh hẹp van hai lá, bệnh mạch vành, viêm màng ngoài tim, ngộ độc digitan, bệnh tim bẩm sinh, viêm cơ tim, bệnh cơ tim phì đại và một số trường hợp không rõ nguyên nhân.

Biểu hiện của đột quị não do tim

Đột quị não do tim biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau từ nhẹ đến nặng. Khởi đầu bệnh nhân thấy đau đầu dữ dội, thất ngôn, liệt nửa người không đồng đều giữa tay và chân, hôn mê ở các mức độ khác nhau. Bệnh nhân có thể tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề nếu cục máu đông gây tắc mạch lớn ở não. Các trường hợp nhẹ hơn có thể chỉ biểu hiện bằng triệu chứng méo miệng, nói ngọng, nuốt sặc, liệt thần kinh vận nhãn. Cũng có thể cục máu đông, sau khi trôi lên não gây tắc mạch, tự tiêu đi theo cơ chế đông máu nên chỉ gây liệt trong thời gian ngắn và người bệnh có thể hồi phục hoàn toàn. Chẩn đoán xác định đột quị não do tim dựa vào các triệu chứng lâm sàng của đột quị não ở người có bệnh tim đang bị loạn nhịp hoàn toàn hoặc loạn nhịp nhanh cộng với phim chụp cắt lớp, phim chụp cộng hưởng từ sọ não thấy có hình ảnh nhũn não (tắc mạch não) và siêu âm tim thấy có huyết khối tâm nhĩ trái, huyết khối van hai lá cơ học...

Dự phòng được không?

Dự phòng biến chứng tắc mạch não do rung nhĩ bao gồm hai vấn đề chủ yếu. Thứ nhất là kiểm soát tần số tim hoặc cố gắng đưa nhịp tim về nhịp xoang với các biện pháp như dùng thuốc (digitan, cordarone), sốc điện, đốt ổ loạn nhịp, phẫu thuật (thủ thuật Maze). Thứ hai là ngăn cản sự hình thành huyết khối bằng việc sử dụng các thuốc chống đông. Các thuốc chống đông hay được dùng là thuốc loại chống kết tập tiểu cầu (aspirin, aspegic), thuốc kháng vitamin K như sintrom. Việc uống thuốc dự phòng phải đều đặn, theo đúng chỉ định và phải được kiểm tra thường xuyên bởi các thầy thuốc chuyên khoa tim mạch. Điều trị dự phòng huyết khối phải được kết hợp với xử trí nguyên nhân gây rung nhĩ như nong tách hẹp van hai lá qua da hoặc mổ thay van, điều trị các bệnh mạch vành, đái tháo đường, viêm phổi. Bệnh nhân cũng nên duy trì một lối sống lành mạnh, đặc biệt tránh uống rượu và hút thuốc lá (những tác nhân dễ gây kích thích khởi phát cơn rung nhĩ), ăn nhạt, tập thể dục hoặc vận động phù hợp, tránh những xúc cảm hoặc stress, ăn uống đầy đủ...

Tóm lại, phải luôn cảnh giác với biến chứng tắc mạch gây đột quị não ở bệnh nhân có biểu hiện rung nhĩ (hay loạn nhịp hoàn toàn) do bất cứ nguyên nhân nào, từ đó có chiến lược dự phòng huyết khối để tránh các biến chứng nói trên có thể xảy ra.

TS. BS. Vũ Đức Định

Phẫu thuật đục thể thủy tinh, cần lưu ý gì?

Đục thể thủy tinh (TTT) là khi xuất hiện vùng đục trên TTT vốn trong suốt, làm các tia sáng khi đi vào mắt bị lệch hướng hay bị cản trở. Người bị bệnh có cảm giác nhìn qua màng sương khói, mờ đục, nhìn có quầng, màu sắc kém sinh động. Phẫu thuật TTT dường như là phương pháp duy nhất để điều trị đục TTT khi nó bị mất tính trong suốt. Trước khi phẫu thuật, bệnh nhân cần hỏi bác sĩ để rõ thế nào là IOL? Phương thức hoạt động của nó như thế nào?

Những lưu ý về trình tự của một cuộc phẫu thuật TTT

Trước khi mổ

Bệnh nhân sẽ phải làm nhiều xét nghiệm, trong đó công việc tính toán công suất của IOL là quan trọng nhất. Một vài loại thuốc cũng có thể được kê toa để sử dụng. Ngược lại, có những thuốc sẽ không được dùng nữa như thuốc chống đông chẳng hạn bởi có thể gây chảy máu trong phẫu thuật. Người bệnh có thể được nhỏ vào mắt phẫu thuật thuốc chống viêm, giãn đồng tử, kháng sinh hay thuốc sát trùng.

Phẫu thuật đục thể thủy tinh, cần lưu ý gì?Với phương pháp mổ phaco, một dụng cụ siêu âm sẽ làm vỡ nát vùng trung tâm của nhân mắt, sau đó hút nó ra ngoài.

Ngày diễn ra phẫu thuật

Có thể phẫu thuật viên sẽ yêu cầu người bệnh nhịn ăn đồ ăn rắn, chí ít là 6 giờ trước khi mổ. Trình tự cuộc mổ thường sẽ diễn ra như sau:

Bệnh nhân có thể được nhỏ mắt, tiêm cạnh mắt hoặc tiêm truyền thuốc làm giảm đau khi mổ. Bệnh nhân cần thức khi mổ để nhìn đèn hay chuyển động mắt khi được yêu cầu.

Phẫu thuật viên rạch một đường rất nhỏ bằng dao hoặc tia laser ở vùng rìa giác mạc, qua đường rạch này dụng cụ siêu âm sẽ được đưa vào để tiếp cận TTT. Dụng cụ làm tán nhuyễn nhân mắt rồi hút ra ngoài. Sau cùng IOL sẽ được đưa vào vị trí thay thế cho TTT đục trước đó. Thường thì vết rạch sẽ tự liền theo thời gian. Bệnh nhân sẽ được đeo tấm bảo vệ mắt hay băng mắt để thúc đẩy quá trình làm sẹo cho vết mổ. Người bệnh lưu lại ở khu hồi tỉnh khoảng 15-30 phút, sau đó có thể ra về.

Những điều cần làm sau phẫu thuật

Thời gian hồi phục sau phẫu thuật, thường là vài ngày hay vài tuần. Bệnh nhân phải uống, nhỏ thuốc theo đơn của bác sĩ. Cần tránh để xà phòng hay nước tiếp xúc trực tiếp vào mắt. Không nên day dụi mắt. Có thể đeo kính màu hay tấm bảo vệ mắt nếu bác sĩ yêu cầu.

Ban đêm để tránh thương tích hay va đập vào mắt, nên đeo kính hay tấm bảo vệ mắt. Tuân thủ những lời dặn của bác sĩ về những hoạt động thể lực nào có thể tiến hành sớm sau phẫu thuật, làm sao để an toàn với các hoạt động thể lực, chơi thể thao, lái xe, khi nào có thể bình thường hóa mọi hoạt động...

Phẫu thuật đục thể thủy tinh, cần lưu ý gì?Mổ phaco điều trị đục TTT là phương pháp được thực hiện phổ biến ở các bệnh viện.

Nguy cơ và biến chứng của phẫu thuật đục TTT

Cũng như các phẫu thuật khác, phẫu thuật đục TTT cũng có những tai biến và biến chứng. Có thể kể ra sau đây như: nhiễm khuẩn, chảy máu, phù nề tại mắt và quanh mắt, phù võng mạc, bong võng mạc, tổn hại các vùng phụ cận, đau nhức, giảm hay mất thị lực, IOL có thể bị đặt lệch, rơi khỏi vị trí an toàn...

Đục bao sau TTT thứ phát

Thị lực có được sau mổ có thể lại bị giảm hay mất sau mổ vài tháng, vài năm. Biến chứng này không phải là phổ biến. Các bác sĩ thường gọi là đục bao sau (PCO), có tên khác là đục TTT thứ phát hay tổ chức xơ sẹo. Màng đục này sẽ gây ra cảm giác mờ lại, khi đó cần can thiệp bằng laser. Tia laser sẽ khoan thủng một lỗ ở bao sau đang bị đục, gọi là thủ thuật mở bao sau bằng laser YAG. Thủ thuật này sẽ trả lại cho người bệnh thị lực như xưa.

Bệnh nhân cũng cần lưu ý là mổ TTT không thể là giải pháp cho mọi bệnh mắt của người già như thoái hóa hoàng điểm, glocom, bệnh lý võng mạc tiểu đường hay tăng huyết áp... Các bệnh lý trên có thể sẽ lại cướp đi thị lực của bệnh nhân cho dù đã mổ TTT thành công.

Nên mổ phaco kinh điển hay phaco có laser trợ giúp?

Nếu có kế hoạch mổ TTT, người bệnh sẽ có hai lựa chọn: Phaco kinh điển và phaco có laser trợ giúp. Phẫu thuật phaco kinh điển phổ biến và được công nhận về tính an toàn và hiệu quả. Phẫu thuật phaco có laser trợ giúp đắt đỏ hơn mặc dù nó có vài ưu điểm về độ chính xác và tính an toàn trong những trường hợp nhất định. Ví dụ bệnh nhân có loạn thị kèm đục TTT chẳng hạn, phương pháp này có thể hiệu chỉnh đồng thời loạn thị nhờ việc thiết kế chủ động đường rạch trên giác mạc. Như vậy, phương pháp phaco có laser trợ giúp ưu điểm nổi bật bởi khả năng điều trị loạn thị đi kèm đục TTT trong khi tính an toàn, độ giảm thiểu biến chứng còn đang cần thời gian thử thách.

Thời gian phục hồi sau phẫu thuật của cả hai phương pháp mổ như nhau. Một vài người nhìn sáng ngay, số còn lại phải chờ đợi 1-2 tuần. Cần nhớ rằng, 3 tháng là thời gian bình phục hoàn toàn của một phẫu thuật TTT.

Có thể trông đợi gì từ cuộc mổ đục TTT?

Với ai đó thì chỉ đơn giản là thay TTT bị đục bằng TTT nhân tạo (IOL) trong suốt. Một vài hoạt động khác cũng vẫn có thể phải đeo kính: đi nắng, chơi thể thao, đọc sách... Nhưng với những người khác phải là thị lực tối ưu mà không cần mang kính. Nhu cầu của cá nhân, ước muốn của họ kèm theo tư vấn của thầy thuốc sẽ là sự lựa chọn tối ưu cho tất cả các bên.

Để lựa chọn phương pháp nào phù hợp nhất, người bệnh nên có hiểu biết về hai phương pháp phẫu thuật này và trao đổi với bác sĩ, thậm chí hỏi han thêm những bác sĩ khác khi bạn chưa yên tâm để đi đến quyết định đúng đắn nhất.

BS. Hoàng Cương

Màu sắc khí hư nói gì về sức khỏe của bạn?

Khí hư âm đạo là hoàn toàn bình thường và có tác dụng duy trì độ cân bằng pH của khu vực âm đạo. Màu sắc của khí hư thường trong hoặc có màu trắng sữa, nhưng mất cân bằng độ pH, nhiễm trùng hoặc các rối loạn sức khỏe khác có thể làm thay đổi màu sắc của khí hư. Dưới đây là dấu hiệu bất thường của khí hư âm đạo:

Màu nâu hoặc màu máu

Khí hư màu nâu hoặc màu máu có thể khiến bạn lo lắng nhưng đây có thể là dấu hiệu không đáng ngại. Nó có thể là dấu hiệu mang thai thời kỳ đầu, kinh nguyệt thất thường. Tuy nhiên, cũng không loại trừ đây là triệu chứng của ung thư cổ tử cung hoặc nội mạc tử cung.

Màu đục hoặc vàng

Dịch tiết màu này có thể cảnh báo dấu hiệu nhiễm trùng do bệnh lây truyền qua đường tình dục như bệnh lậu. Những dấu hiệu khác ngoài màu sắc của dịch tiết cần theo dõi là xuất huyết giữa kỳ kinh, tiểu tiện không tự chủ và đau vùng chậu.

Màu vàng hoặc hơi xanh

Dịch màu vàng hoặc hơi xanh, có bọt có thể là dấu hiệu nhiễm trùng roi âm đạo. Ngoài tiết dịch, bệnh có thể gây đau hoặc nóng rát khi đi tiểu.

mau-sac-khi-hu-noi-gi-ve-suc-khoe-cua-ban

Màu hồng

Khí hư màu này thường xuất hiện sau sinh. Dịch hồng thường là dấu hiệu bình thường của tình trạng ra máu sau sinh (sản dịch).

Trắng và sền sệt

Khí hư bình thường cần có màu trắng sữa nhưng nếu nó giống pho mai và sền sệt cùng với tình trạng sưng, đau âm hộ, ngứa và đau khi giao hợp, đó có thể là dấu hiệu nhiễm nấm.

Trắng hoặc xám

Khí hư hơi trắng và thậm chí màu vàng và có mùi tanh có thể là dấu hiệu âm dạo nhiễm khuẩn, dẫn tới ngứa, nóng, đỏ và sưng ở vùng kín.

BS. Cẩm Tú

(theo THS)

Điều trị loãng xương: các khó khăn và thách thức

Loãng xương là một bệnh lý ảnh hưởng đến 1 trong 3 phụ nữ (33%) và 1 trong 5 (20%) nam giới trên 50 tuổi trên toàn thế giới. Hệ quả nghiêm trọng nhất của bệnh loãng xương là gãy xương. Gãy xương là một gánh nặng về kinh tế xã hội cho mọi quốc gia, đặc biệt là nước ta, vì người bị gãy xương do loãng xương có nguy cơ tử vong cao và gia tăng nguy cơ mắc các bệnh khác. Gần 25% bệnh nhân bị gãy xương đùi sẽ tử vong trong vòng 12 tháng sau biến cố gãy xương.

Vì vậy biến cố gãy xương do loãng xương được coi là nặng nề tương đương với đột quy và nhồi máu cơ tim trong các bệnh lý tim mạch. Ngoài ra, sau gãy xương người bệnh còn phải chịu đau đớn kéo dài, giảm chất lượng sống, mất khả năng lao động và vận động, sống phụ thuộc và tàn phế, chi phí điều trị loãng xương vì thế càng ngày càng tăng cao, gây nên gánh nặng kinh tế lớn cho gia đình và xã hội.

Điều trị loãng xương

Với dân số hơn 90 triệu người, Việt Nam đang là 1 trong 15 quốc gia hàng đầu thế giới về dân số. Tuy nhiên với mức sống và thu nhập không cao, kinh tế phát triển còn chậm, sự già hóa dân số lại diễn ra quá nhanh, chất lượng của tuổi thọ chưa cao…, các bệnh liên quan đến tuổi như Loãng xương đã trở thành thách thức lớn cho xã hội.

Gãy xương do loãng xương được coi là nặng nề tương đương với đột quy và nhồi máu cơ tim trong các bệnh lý tim mạch

Tam giác dự phòng loãng xương

Loãng xương là bệnh có thể phòng ngừa hiệu quả bằng một chế độ ăn uống đầy đủ dưỡng chất, kết hợp với chế độ sinh hoạt, vận động hợp lý ngay từ khi còn trẻ và duy trì suốt cuộc đời.

Canxi là một khoáng chất quan trọng, thành phần chính cấu thành bộ xương và hàm răng của con người (99% canxi của cơ thể tập trung ở xương và răng), nhưng cơ thể không tự tổng hợp được mà bắt buộc phải được cung cấp từ chế độ ăn hàng ngày của mỗi người. Thiếu canxi là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thiếu xương và loãng xương. Đặc biệt từ sau tuổi 30, mật độ xương bắt đầu giảm dần do quá trình hủy xương dần dần vượt trội hơn quá trình tạo xương, nếu cơ thể không được bổ sung lượng canxi thích hợp sẽ không bù đắp được khối lượng xương đã mất đi, dẫn đến quá trình loãng xương xảy ra sớm và trầm trọng hơn.

Nhu cầu canxi hàng ngày của cơ thể dao động từ 210mg đến 1.500mg, thay đổi theo lứa tuổi và phụ thuộc quá trình phát triển, chu kỳ sống của xương, sự hấp thụ canxi của mỗi người.

Điều trị loãng xương

Tuy nhiên, theo khuyến cáo từ Viện Dinh dưỡng Quốc gia, lượng canxi từ bữa ăn hàng ngày của người Việt Nam trung bình là 500mg, ước tính chỉ cung cấp khoảng 50% nhu cầu canxi ở người trưởng thành. Do đó, trước hết chúng ta cần tận dụng tối đa canxi trong các loại thực phẩm giầu canxi, nếu chưa đủ sẽ bổ sung thêm bằng thuốc:

- Tăng cường sử dụng sữa, các chế phẩm từ sữa, các thức ăn giàu canxi như tôm, cua, cá, các loại rau củ có màu xanh đậm (rau cải xanh, rau ngót, rau mồng tơi, rau đay, bông cải xanh, rau bó xôi, các loại rau mầm, trái ớt ngọt, cam tươi, đu đủ, dâu tây, kiwi…), thủy hải sản (cá, tôm, cua, ốc…). Một ly sữa tươi thông thường chứa khoảng 250mg canxi.

Luợng canxi từ bữa ăn hàng ngày của người Việt Nam trung bình là 500mg, ước tính chỉ cung cấp khoảng 50% nhu cầu canxi ở người trưởng thành

- Đặc biệt, trong những giai đoạn mà cơ thể đòi hỏi một lương canxi cao (phụ nữ mang thai và cho con bú, phụ nữ trong độ tuổi mãn kinh, người cao tuổi…) khi chế độ ăn hàng ngày không đáp ứng đủ, các viên canxi, ống canxi dược phẩm sẽ là một nguồn bổ sung quan trọng.

- Bên cạnh đó, để hấp thu canxi tối ưu, chúng ta cần chú trọng bổ sung vitamin D hàng ngày bằng việc phơi nắng trực tiếp 15 phút vài lần trong tuần, tốt nhất là vào buổi sáng sớm (6g30 - 7g30) sẽ là cách bổ sung vitamin D hiệu quả và kinh tế nhất bởi vì nguồn vitamin D dồi dào nhất là từ ánh sáng mặt trời.

Thuốc điều trị loãng xương

Loãng xương là một bệnh mạn tính, tiến triển và liên quan đến tuổi, một liệu trình điều trị loãng xương thường kéo dài 3 - 5 năm, thậm chí tới 10 năm để có được hiệu quả ngăn ngừa hay làm giảm nguy cơ gãy xương. Hiện nay các loại thuốc chủ yếu để điều trị loãng xương đã có mặt tại Việt Nam và đã được bảo hiểm y tế chi trả. Các thuốc này đều có bằng chứng về hiệu quả và an toàn trong điều trị các thể loại loãng xương chính như loãng xương sau mãn kinh, loãng xương người già, loãng xương nam giới, loãng xương do corticosteroid, loãng xương thứ phát… Để việc điều trị loãng xương hiệu quả người bệnh cần tuân thủ nghiêm túc chế độ điều trị, bao gồm thuốc điều trị loãng xương, canxi, vitamin D (đủ theo nhu cầu hàng ngày) và tập vận động đều đặn.

Một số chế phẩm canxi và vitamin D cũng đang nằm trong danh sách chi trả của bảo hiểm y tế. Từ các thông tin về nhu cầu hàng ngày, nghiên cứu về tình trạng thiếu canxi và vitamin D trong khẩu phần ăn hàng ngày, các kiến thức khoa học đến các lĩnh vực liên quan (tim mạch, chuyển hóa, thận mạn tính…), các bác sĩ sẽ tư vấn cho bệnh nhân và cộng đồng cách bổ sung canxi và vitamin D như thế nào để đảm bảo hiệu quả và an toàn.

Điều trị loãng xươngBên cạnh đó, cần chú trọng bổ sung vitamin D hàng ngày bằng việc phơi nắng

Vì chế độ ăn của người Việt chưa đáp ứng đủ nhu cầu canxi của cơ thể, chúng ta có thể bổ sung khoảng 600 - 1.000mg canxi dược phẩm mỗi ngày. Bên cạnh đó, ngoài việc tham gia duy trì sức khỏe xương, phòng chống té ngã và điều trị loãng xương, các nghiên cứu mới đây khẳng định vai trò quan trọng của vitamin D trong việc duy trì sức khỏe nói chung. Thiếu hụt vitamin D đang là vấn đề y tế toàn cầu, làm gia tăng nhiều bệnh mạn tính nguy hiểm và ảnh hưởng đến thai kỳ. Bổ sung 1.000 - 1.200UI vitamin D hàng ngày giúp phòng ngừa nhiều bệnh: ung thư, tim mạch, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, đái tháo đường, vẩy nến, viêm đường ruột, viêm khớp, viêm gan, nhiễm trùng, lao phổi, alzheimer…

Loãng xương cũng là một dạng bệnh nội tiết

Loãng xương là một bệnh rối loạn chuyển hóa xương nên thực chất đây là bệnh nội tiết. Hơn thế nữa, bệnh lại mang tính cộng đồng với tỉ lệ mắc bệnh cao, diễn tiến âm lặng nhưng gây hậu quả nặng nề cho người bệnh, gia đình và xã hội. Bệnh cần được điều trị sớm, liên tục và lâu dài để ngăn ngừa hay giảm nguy cơ gãy xương cũng giống như việc điều trị tăng huyết áp để ngăn ngừa đột quỵ hay điều trị bệnh mạch vành để ngăn ngừa nhồi máu cơ tim, vì gánh nặng kinh tế xã hội và nguy cơ tử vong do gãy xương, đột quỵ hay nhồi máu cơ tim tương đương nhau.

Ngày 11/8/2018, tại Đà Lạt, hơn 300 bác sĩ, giáo sư, tiến sĩ và các chuyên gia về bệnh lý loãng xương đã tham dự Hội nghị khoa học thường niên lần thứ XII do Hội Loãng xương TP.HCM tổ chức. Chủ đề của hội nghị năm nay là “Loãng xương, những vấn đề cơ bản, các xu hướng khoa học mới và các bệnh liên quan”.PGS.TS.BS. Lê Anh Thư, Chủ tịch Hội Loãng xương TP.HCM, cho biết đây là một diễn đàn quy tụ các giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ, chuyên gia hàng đầu về loãng xương trong và ngoài nước để báo cáo các thành tựu và xu hướng mới, các nghiên cứu mới, thảo luận các giải pháp và các vấn đề liên quan đến bệnh lý loãng xương.Các giải pháp hiện nay cho phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị bệnh loãng xương đều mang lại hiệu quả thực sự cho cộng đồng. Tuy nhiên, các báo cáo viên cũng đưa ra một số thực trạng về tình trạng thiếu chẩn đoán, thiếu điều trị… do một số quan điểm sai lầm, thậm chí đi ngược lại các tiến bộ chung, dẫn đến việc kiểm soát bệnh loãng xương đang trở nên khó khăn hơn ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam và những giải pháp nhằm cải thiện tình trạng này.Hội nghị cũng nhấn mạnh, loãng xương là bệnh lý phức tạp, có liên quan đến nhiều bệnh lý mạn tính khác và cũng chịu tác động của nhiều bệnh lý khác nhau. Các đề tài còn đề cập tới tình trạng đau cấp và mạn trong loãng xương, loãng xương ở nam giới, mối liên quan của loãng xương với đái tháo đường, bệnh thận mạn, các lưu ý trong việc bổ sung calcium…

AN QUÝ

PGS.TS. LÊ ANH THƯ

Quản lý và chăm sóc lâu dài người bệnh xơ gan

Quá trình xơ hóa gan là tình trạng trong gan bắt đầu hình thành các mô xơ, các mô xơ này ban đầu nhỏ rồi lớn dần và lan tỏa khắp thể tích gan. Khi các mô xơ xâm chiếm từ 50% lá gan trở lên thì được gọi là xơ gan. Quá trình xơ hóa gan có thể diễn ra từ vài năm cho đến vài chục năm. Vì vậy, việc chăm sóc và quản lý tình trạng xơ hóa gan của người bệnh có ý nghĩa rất quan trọng, giúp làm giảm tốc độ diễn tiến bệnh, tránh những biến chứng vô cùng nguy hiểm của xơ gan và tạo điều kiện để người bệnh “chung sống” lâu dài với bệnh.

Xơ gan là hậu quả cuối cùng của những bệnh lý về gan mà người bệnh mắc phải trước đó. Tại Việt Nam, nguyên nhân phổ biến nhất gây xơ gan là do viêm gan siêu vi B và viêm gan siêu vi C. Thường xuyên sử dụng rượu bia và tình trạng gan nhiễm mỡ là những nguyên nhân đứng ở vị trí thứ hai và thứ ba. Bên cạnh đó, một số nguyên nhân ít gặp khác có thể dẫn đến xơ gan, đó là bệnh gan tự miễn, tình trạng ứ đọng sắt, đồng trong gan hoặc do tắc mật lâu ngày…

Quản lý và chăm sóc lâu dài người bệnh xơ gan

Bệnh xơ gan ở giai đoạn đầu (hay được gọi là xơ gan còn bù) thường khó phát hiệnvì không có triệu chứng rõ rệt. Trong giai đoạn này, người bệnh chỉ có thể phát hiện khi đi khám sức khỏe và làm các xét nghiệm. Khi bước vào giai đoạn xơ từ 2/3 thể tích gan trở lên, tứcgiai đoạn xơ gan mất bù, những triệu chứng điển hình và nặngnề có khi xuất hiện dồn dập như bụng to, mắt vàng, đốm đỏ trên da, chân sưng, ói ra máu… khiến người bệnh “trở tay” không kịp.

Nguyên nhân phổ biến nhất gây xơ gan là do viêm gan siêu vi B và viêm gan siêu vi C

PGS.TS.BS. Bùi Hữu Hoàng cho biết: “Sự nguy hiểm của xơ gan chính là những biến chứng nghiêm trọng của bệnh. Khi gan bị xơ, những chức năng quan trọng của gan đối với cơ thể suy giảm, dẫn đến những biến chứng nặng nề: cổ trướng (báng bụng) do tích tụ nước trong ổ bụng; ói ra máu do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản; nhiễm trùng; hôn mê gan; suy thận và nguy hiểm nhất là ung thư gan. Tuy xơ gan không thể chữa khỏi bằng những biện pháp thông thường nhưng nếu hiểu biết đầy đủ về căn bệnh và chăm sóc đúng cách, người bệnh hoàn toàn có thể làm chậm tốc độ xơ hóa, ngăn ngừa biến chứng, bảo tồn chức năng gan và cải thiện chất lượng cuộc sống trong thời gian khá dài”.

PGS.TS.BS. Bùi Hữu Hoàng chia sẻ thêm: yếu tố quan trọng nhất để quản lý tình trạng xơ gan là xác định chính xác nguyên nhân gây xơ gan và điều trị tốt nguyên nhân đó nhằm chặn đứng hoặc hồi phục một phần quá trình xơ hóa. Cụ thể, nếu người bệnh mắc siêu vi B hoặc siêu vi C thì cần đến các cơ sở y tế uy tín để được điều trị sớm, tránh để tình trạng viêm gan tiến triển sẽ nhanh dẫn đến xơ gan. Nếu người bệnh xơ gan do rượu bia thì cần bỏ hẳn việc sử dụng những thức uống này.Bên cạnh đó, người bệnh xơ gan cần tránh làm nặng thêm tình trạng bệnh bằng cách không được tự ý sử dụng các loại thảo dược, thực phẩm chức năng được quảng cáo “mát gan, giải độc, bổ gan…” không rõ nguồn gốc.Việc dùng các loại thuốc phòng ngừa biến chứng xơ gan cần có sự tư vấn chuyên môn của thầy thuốc.

Thêm vào đó, chức năng gan suy yếu sẽ làmgiảm sức đề kháng của cơ thể nên người bệnh rất dễ bị nhiễm trùng, nhất là viêm phổi, nhiễm trùng dịch báng… Khi bị nhiễm trùng, tình trạng gan càng suy sụp nhanh hơn. Vì thế, hằng năm người bệnh xơ gan cần chích ngừa cúm và phòng ngừa các bệnh viêm phổi thông thường. Một yếu tố quan trọng không kém nhưng rất nhiều người vẫn xem nhẹ, đó là chế độ dinh dưỡng của người xơ gan. Người bệnh không nên kiêng ăn quá mức, nhất là phải ăn đầy đủ chất đạm thì mới mau tái tạo tế bào và phục hồi dinh dưỡng. PGS.TS.BS. Bùi Hữu Hoàng khuyến cáo người bệnh nên ăn các loại đạm thực vật (ví dụ các loại đậu) vì có chứa nhiều axít amin phân nhánh rất tốt cho gan, đồng thời phải đảm bảo đầy đủ, cân đối về dinh dưỡng trong khẩu phần để tránh tình trạng suy dinh dưỡng, sưng phù, nhiễm trùng, hôn mê gan…

Quản lý và chăm sóc lâu dài người bệnh xơ ganBụng to trong xơ gan mất bù

Một trường hợp người bệnh xơ gan được quản lý tốt, đó là bác L.G.T. (65 tuổi - ngụ tại TP. HCM). Cách đây 10 năm, bác T. nhập viện cấp cứu tại BV. ĐHYD trong tình trạng hôn mê gan, da sạm đen, men gan cao gấp 30 lần người bình thường. Bác T. cho biết vì quá hoang mang lo lắng khi biết mình mắc bệnh gan nên bác kiêng ăn tất cả chất đạm như thịt, cá, trứng, sữa. Người bệnh được người quen giới thiệu sử dụng một loại thảo dược khô xin từ các thầy lang miền núi với lời hứa hẹn “giải độc gan, giúp khỏi hẳn viêm gan”. Sau khi uống loại thảo dược này được một tuần, người bệnh đột ngột vào tình trạng hôn mê. Sau khi cấp cứu hôn mê thành công và người bệnh hồi tỉnh, các bác sĩ BV. ĐHYD xác định bác T. mắc viêm gan siêu vi B gây xơ gan. PGS.TS. BS. Bùi Hữu Hoàng đã điều trị viêm gan b và cho người bệnh sử dụng các loại thuốc thải độc gan qua đường tiêu hóa, phòng ngừa vỡ giãn tĩnh mạch thực quản… Bên cạnh đó, bác T. được tư vấn chế độ dinh dưỡng hợp lý, sinh hoạt lành mạnh và thường xuyên tái khám kiểm tra sức khỏe. Sau lần “cận kề cửa tử” đó, bác T. luôn tuân thủ phác đồ điều trị cũng như lời khuyên của bác sĩ. Từ đó đến nay, tình trạng bệnh của bác T. được giữ ổn định và chất lượng cuộc sống của người bệnh được đảm bảo lâu dài.

Người bệnh hoàn toàn có thể làm chậm tốc độ xơ hóa, ngăn ngừa biến chứng, bảo tồn chức năng gan

Tại BV. ĐHYD, có 20% số người đến khám các vấn đề về gan là người bệnh xơ gan. Những năm qua, bệnh viện đã thiết lập chương trình quản lý tốt người bệnh xơ gan, giúp hơn 70% trường hợp xơ gan giữ ổn định ở giai đoạn còn bù. PGS.TS.BS. Bùi Hữu Hoàng có lời nhắn nhủ đến cộng đồng: gan là vốn quý của cơ thể, đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng đối với sức khỏe. Vì vậy, người dân nên phòng ngừa các bệnh lý về gan bằng cách tiêm ngừa các bệnh viêm gan do siêu vi, khám sức khỏe định kỳ để tầm soát sớm các bệnh gan và có một chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh, hạn chế rượu bia để bảo vệ lá gan của mình. Nếu đã mắc xơ gan, người bệnh nên tuân thủ chỉ định điều trị và chế độ sinh hoạtdo thầy thuốc đề ra. Có như vậy, người bệnh hoàn toàn có thể “chung sống hòa bình” một cách lâu dài với bệnh xơ gan.

T.P ghi

PGS.TS.BS. BÙI HỮU HOÀNG